Công nghệ chống làm giả hàng hóa, sản phẩm và văn bản

Những năm gần đây nạn làm giả hàng hóa,sản phẩm, văn bản giấy tờ, tiền bạc, gia tăng tới mức báo động ở phần lớn các nước châu Âu và châu Á, xâm hại đến sức khỏe và cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân ,xâm hại đến lợi ích của các nhà sản xuất, gây thất thu thuế tổn hại lớn cho nhà nước, làm nhức nhối cho toàn xã hội. Bọn tội phạm sử dụng kỹ thuật sao,in hiện đại và các phương tiện kỹ thuật mới nhất trong việc làm giả. Siêu lợi nhuận của việc tiêu thụ hàng giả,giấy tờ giả đã cuốn hút bọn buôn lậu và thế giới tội phạm.Việc sản xuất và lưu hành hàng giả, giấy tờ giả ngày càng gia tăng trở thành một vấn nạn, nhất là khi có dấu hiệu xuất xứ tác động từ bên ngoài thì rõ ràng nó liên quan trực tiếp đến an ninh của đất nước (theo số liệu điều tra,thiệt hại trực tiếp đối với Hoa kỳ do việc làm giả đô la gây ra ước tính hơn 10 tỉ,do việc giả mạo giấy tờ giá trị khoảng 15 tỉ USD mỗi năm,thiệt hại đối với các công ty Nhật do bị sử dụng trái phép mẫu mã sản phẩm là khoảng 400 triệu USD mỗi năm).

Chính vì vậy, vấn đề xây dựng và ứng dụng các hệ thống bảo vệ hàng hóa,giấy tờ và sản phẩm chống làm giả, chặn đứng bọn tội phạm trong lĩnh vực trên là nhiệm vụ mang tầm cỡ quốc gia và việc hoàn thiện cơ sở pháp lý, các biện pháp tổ chức và các giải pháp kỹ thuật liên quan đến việc nghiên cứu và triển khai ứng dụng các hệ thống bảo vệ hàng hóa, giấy tờ và sản phẩm là những phương hướng chủ yếu trong việc giải quyết hiệu quảvấn đề trên.. Dưới đây sẽ trình bầy một hệ thống giám sát-kiểm kê hàng hóa (sản phẩm) và văn bản đáp dựa trên nguyên lý bảo vệ thông tin sử dụng tổng hợp toàn bộ các phương tiện và biện pháp bảo vệ cho phép trên suốt lộ trình của hàng hóa, sản phẩm, giấy tờ từ nhà sản xuất (người thực hiện) đến người tiêu dùng (người sử dụng) chống giả mạo một cách hiệu quả.

TEM CHỐNG HÀNG GIẢ                                             

Thành phần chủ chốt của hệ thống bảo vệ hàng hóa,giấy tờ sản phẩm là tem, với các dấu hiệu bảo vệ. Dấu hiệu bảo vệ là một đối tượng vật lý (dấu hiệu, tem), nhận biết được bằng mắt được thể hiện bởi một vài đặc trưng. Dấu hiệu bảo vệ có ba nhiệm vụ chính: trực tiếp hoặc gián tiếp bảo vệ đối tượng được dán tem nhãn, phát hiện sự xâm phạm trái phép đến đối tượng và thông báo về xuất xứ và lộ trình của đối tượng được dán tem. Ngoài ra, dấu hiệu bảo vệ cần xác nhận sự tồn tại quyền lợi về tài sản hoặc các quyền lợi khác của đối tượng được dán tem nhãn, phát hiện việc xâm hại các quyền lợi đó do người ngoài gây nên, lưu giữ thông tin của nhà sản xuất và thông tin cho phép độc lập kiểm soát thực trạng, xuất xứ và lộ trình của đối tượng cũng như có đủ độ bền vững chống lại các thủ đoạn làm và sử dụng tem giả. Bảo vệ các dấu hiệu của tem có thể bằng nhiều phương pháp như bảo vệ bằng công nghệ in ấn thông dụng, công nghệ in nổi bằng sóng tán xạ (phủ một phần tử bảo vệ được in nổi), bảo vệ mực mầu bằng hóa học, mã vạch, mã bảo mật thông tin.

Về mặt lịch sử công nghệ bảo vệ bằng in ấn được phát triển theo hai hướng: thứ nhất chế tạo các loại giấy đặc biệt làm nền cho các dấu hiệu bảo vệ và giấy tờ; thứ hai sử dụng các dấu hiệu bảo vệ đặc biệt được đưa vào giấy phôi đó từ khi chế tạo hoặc bổ sung vào trong quá trình chuẩn bị giấy phôi. Loại giấy với dấu hiệu bảo vệ có mầu được đặc trưng bởi độ dầy đồng đều và cấu trúc nhiều lớp.Loại giấy đặc biệt đó được làm bằng tấm nhựa polime hai mặt hoặc giấy bóng kính, ngoài ra cũng có thể làm bằng vật liệu compozit có tính phản quang khác nhau. Công nghệ chế tạo các loại giấy đặc biệt nói trên và thiết bị rất phức tạp nên giá thành cao mà cũng không bảo đảm loại bỏ được hoàn toàn khả năng làm giả đã hạn chế phạm vi ứng dụng theo hướng này. Cho đến gần đây việc sử dụng các loại hình in nổi bằng sóng tán xạ để phân biệt vẫn còn đươc coi là biện pháp rất đảm bảo, song hiện nay đã có một số thiết bị có thể làm giả được các hình in nổi bằng sao chụp.

Mã vạch đã từ lâu trở thành chuẩn trong giao dịch thương mại quốc tế.Lần đầu tiên nó được biết đến khoảng những năm 30 của thế kỷ trước. Phổ biến trên thế giới hiện nay là mã vạch 8 hoặc13 vi trí EAN (European Article Numbering). Những ưu điểm của mã vạch là thiết bị ghi rẻ và việc tạo mã vạch khá đơn giản,có thể in thẳng lên vỏ hộp hàng hóa (trên giấy tờ) đồng thời cùng với các thông tin còn lại, cũng có thể bằng cách dùng tem dán có mã vạch. Trong mã vạch một chiều (tuyến tính) có thể phân bổ thông tin vào khoảng 20-30 ký hiệu bằng chữ số. Đối với trường hợp thông tin có khối lượng lớn tới 1,5…2 ngàn ký hiệu người ta sử dụng mã vạch hai chiều. Hiện tại người ta đã làm ra khoảng hơn 20 loại mã vạch có ký hiệu khác nhau. Phổ biến nhất là các loại mã PDF417,Datamatrix,Aztec. Trung tâm khoa học kỹ thuật “CentrInform” Liên bang Nga đã sử dụng mã vạch phối hợp bảo vệ thông tin bằng mã mật để xác nhận xuất xứ hợp pháp của các sản phẩm có cồn (rượu) và sự phù hợp những yêu cầu chất lượng của chúng. Mỗi biện pháp đã đề cập cho phép bảo đảm từng phần các yêu cầu đối với các dấu hiệu bảo vệ và chỉ bằng cách sử dụng tổng hợp các biện pháp đó mới có thể thực hiện đầy đủ các yêu cầu đặt ra đối với các dấu hiệu bảo vệ.

Ví dụ mẫu các dấu hiệu bảo vệ trên tem do Trung tâm khoa học kỹ thuật “CentrInform” chế tạo (giấy chứng chỉ của Uy ban kỹ thuật nhà nước N°474 ngày 10 tháng 7 năm 2001) sử dụng biện pháp bảo vệ tổng hợp dùng làm tem nhãn cho các sản phẩm rượu. Tem nhãn có hình dạng đặc biệt và làm bằng phương pháp in tipô. Phần tử bảo vệ in nổi bằng phương pháp tán xạ, các hàng chữ siêu nhỏ, hình vẽ ẩn cùng với know-how công nghệ trong nước khiến cho tem khó có thể làm giả và cho phép giám sát tính xác thực của tem nhãn. Ngoài ra các đường rạch của tem khiến việc bóc ra dán lại không thực hiện được. Ngoài phần tử bảo vệ in nổi bằng phương pháp tán xạ, trên tem còn có dấu đặc biệt được in bằng mực không mầu. Trong thành phần của mực in đó có hợp chất có độ phân giải cao lấy từ đất hiếm và dễ phát quang nhìn thấy được khi dùng nguồn chiếu có bước sóng ở dải hồng ngoại. Tem còn có vùng ghi thông tin giám sát – kiểm kê dưới dạng mã vạch hai chiều có bảo mật cho thông tin về nhà sản xuất,người làm tem nhãn, tên loại rượu, ngày đóng chai, chứng chỉ chất lượng v.v…, những thông tin đó khắc họa đầy đủ đặc tính của sản phẩm và lộ trình đến với ngưòi tiêu thụ sản phẩm đó. Thông tin giám sát-kiểm kê có thể có chữ ký điện tử bằng số, chữ ký đó cùng với các thông tin giám sát- theo dõi được ghi lên tem nhãn bằng mã vạch hai lớp. Chữ ký điện tử được lập bởi thuật toán chuẩn có sử dụng khóa mật của người làm tem là sản phẩm độc đáo, nó đảm bảo sự toàn vẹn của các thông tin giám sát-theo dõi chống giả mạo. Mọi nỗ lực nhằm thay đổi dù chỉ một bit trong thông tin giám sát -theo dõi hoặc trong chữ ký điện tử cũng sẽ bị phát hiện ngay khi giám sát. Ngoài ra trên tem nhãn từ trên xuống dưới ở khu vực ghi mã vạch có ghi số lô sản phẩm theo cơ sở dữ liệu và số của chai trong lô đó cũng như những thông tin cho người dùng như tên nhà sản xuất, tên sản phẩm và dung lượng của chai. Tem là điều kiện bảo vệ cần thiết cho hàng hóa, giấy tờ và sản phẩm nhưng chưa đủ, nó mới chỉ là một phần tử của hệ thống bảo vệ.

HỆ THỐNG TỰ ĐỘNG GIÁM SÁT VÀ KIỂM KÊ HÀNG HÓA, SẢN PHẨM

Sơ đồ cấu trúc của hệ thống giám sát- kiểm kê(HTKT-KK). Hệ thống gồm phân hệ thống (tiểu hệ thống) tạo tem bằng các dấu hiệu bảo vệ và phân hệ thống (tiểu hệ thống) giám sát các dấu hiệu bảo vệ.Phân hệ thống tạo tem gồm trạm trung tâm và các trạm đầu cuối (trạm ngoại vi) tạo ra các dấu hiệu bảo vệ và tem. Thành phần của mỗi trạm có thiết bị làm tem (TBLTN), cơ sở dữ liệu trung tâm(CSDLTT) hoặc cơ sở dữ liệu đầu cuối (CSDLĐC), bàn công tác tự động nhập dữ liệu của yêu cầu vào CSDL (BTDNDL), hệ thống điều khiển cơ sở dữ liệu (HTĐK CSDL), bàn tự động in (BTĐI) để ghi thông tin giám sát-kiểm kê và khối mã mật. Phân hệ thống tạo tem có thể được xây dựng theo mô hình tập trung hoặc phân tán.

Trong mô hình tập trung, việc ghi thông tin giám sát-kiểm kê lên trên các dấu hiệu bảo vệ và làm tem được thưc hiện ở trạm trung tâm. Trong hệ thống phân tán những việc đó có thể thực hiện ở trạm trung tâm cũng như ở các trạm đầu cuối (có thể có một vài trạm). Việc trao đổi thông tin giữa trạm trung tâm với các trạm đầu cuối được thực hiện bằng các đường thông tin công cộng (điện thoại,internet). Việc điều khiển phân hệ thống tạo tem được thực hiện từ trung tâm điều khiển và giám sát. Trung tâm cơ sở dữ liệu lưu giữ mọi thông tin về tất cả các dấu hiệu bảo vệ trong phân hệ tạo tem , khác với cơ sở dữ liệu đầu cuối mà trong đó chỉ chứa thông tin cục bộ (thông tin đầu cuối). Trong hệ thống tập trung chỉ có một đầu vào – đầu vào trung tâm,còn trong hệ thống phân tán có N đầu vào của các thiết bị đầu cuối. Phân hệ thống giám sát gồm một số trạm giám sát cơ động. Thành phần mỗi trạm đó gồm: thiết bị đọc tem (scaner),thiết bị kiểm tra holograma, cơ sở dữ liệu để giám sát, thiết bị điều khiển cơ sở dữ liệu, thiết bị nhận biết, khối mật mã. Theo chức năng hoạt động của hệ thống phân tán có thể chia ra các công đoạn sau:

  • Nhập và thống kê yêu cầu ghi thông tin giám sát-kiểm kê;
  • Ghi (in) thông tin giám sátkiểm kê cho sản phẩm (bằng mã barcod hai chiều có bảo mật);
  • Gắn tem cho sản phẩm;
  • Nhận biết tính xác thực của sản phẩm đó được gắn tem;
  • Xử lý thống kê các dữ liệu. Phiếu yêu cầu về việc ghi các thông tin giám sát – kiểm kê từ nhà sản xuất có thể nhập đến cổng vào trung tâm của hệ thống hoặc đến bất kỳ một trong N cổng vào đầu cuối đối với hệ thống phân tán.

Ta hãy xem hoạt động của hệ thống với ví dụ phiếu yêu cầu nhập ở cổng vào trung tâm của hệ thống .

Phiếu yêu cầu ở dạng các dữ liệu quy ước theo trình tự được đưa tới cổng vào trung tâm của hệ thống, tại đó sẽ đưa ra quyết định việc ghi các thông tin kiểm soát và kiểm kê lên lô hàng. Sau khi nhận quyết định, phiếu yêu cầu vừa chuyển đến sẽ được cấp mã số hiện hành (số seri của các dấu bảo vệ) và xác định mã số riêng (mã đặc biệt) của các dấu bảo vệ. Sau đó các dữ liệu của phiếu yêu cầu được nhập vào CSDLTT qua cổng nhập dữ liệu của trạm công tác tự động APM. Việc truy cập vào CSDLTT chỉ được phép theo mật khẩu của một số người rất hạn chế và được bảo đảm bởi hệ thống chống xâm nhập hai mức vào máy tính, như đối với CSDL trung tâm.

Những đặc điểm dịch chuyển và kiểm kê của phiếu yêu cầu đến từ cổng vào của một thiết bị ngoại vi nào đó của hệ thống thể hiện ở chỗ: sau khi phiếu yêu cầu đó được nhập sẽ được truyền theo đường liên lạc tới cổng vào trung tâm của hệ thống, tại đây nó được xem xét sau khi xác nhận phiếu yêu cầu đã được ghi vào CSDL trung tâm. Lệnh cho phép ghi thông tin giám sát – kiểm kê lên phiếu yêu cầu được xác nhận cùng với chỉ dẫn về số lô của các dấu bảo vệ và khoảng các số dấu hiệu bảo vệ riêng (đặc biệt) được phân sẽ được đưa đến cổng vào của thiết bị ngoại vi. Các dữ liệu thu được qua trạm công tác tự động nhập dữ liệu đưa đến CSDL của thiết bị ngoại vi tương ứng. Hệ thống giám sát-kiểm kê hàng hóa (sản phẩm) nói trên đã được cấp bằng sang chế ,đăng ký bản quyền tại Nga và Liên minh Châu Âu.Một hệ thống như vậy dung để kiểm tra mặt hàng rượu đã được đưa vào sử dụng hiệu quả tại LB Nga và các nước thuộc Cộng đồng các Quốc gia độc lập như Moldavia,Belorusia,Kazaktan v.v…. Hệ thống đã hỗ trợ việc bảo vệ người tiêu dung khỏi vấn nạn rượu lậu ,rượu giả, bảo đảm giám sát một cách khách quan mạng lưới thương nghiệp, quét các sản phẩm rượu giả,rượu lậu ra khỏi thị trường, điều đó làm cho việc thu thuế cho ngân sách tăng lên đáng kể ./.

(Nguồn: rev.org.vn)


Chi nhánh Hà Nội – Công ty TNHH Đầu tư LEFAMI

Nhà phân phối chính thức máy in màu công nghiệp Konica Minolta tại Việt Nam

  • Địa chỉ: 198 Thái Thịnh – Q. Đống Đa – Hà Nội
  • Liên hệ: Vũ Tiến Đạt – Phụ trách kinh doanh PP
  • Điện thoại: 0944.299.288
  • Email: mrvu.konica@gmail.com
  • Website: http://mayinmau.org

Công nghệ chống làm giả hàng hóa, sản phẩm và văn bản

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *